Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Bài thuốc chữa chứng bốc hỏa ở phụ nữ

Bốc hỏa là chứng bệnh thường gặp, nhất là phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh. Theo y học cổ truyền, chứng bốc hỏa là khí nóng trong người phát ra. Bệnh phần nhiều do vốn chân âm hư, ăn uống không phù hợp, hoặc do tình chí tức giận thái quá. Ngoài ra, thời tiết nắng nóng quá cũng là nguyên nhân khiến hỏa bốc lên.

Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, “chân hỏa là khí nóng trong thân người, hộ vệ cho thân thể, nếu kém thì bệnh mà mất đi thời chết”. Chữa hỏa phải dùng cách “tòng trị”, nương theo tính của hỏa để dẫn nó về chỗ cũ, thường gọi là “dẫn hỏa quy nguyên”. Sau đây là một số bài thuốc thường dùng phòng trị chứng hỏa:

Nếu người bệnh hay khô đắng miệng, táo bón do can hỏa, uất nhiệt: Dùng bài Đơn chi tiêu dao tán gia giảm gồm: sài hồ 14g, đương quy 20g, bạch thược 20g, bạch truật 12g, bạch linh 14g, chích thảo 10g, đơn bì 14g, chi tử 10g, ngưu tất 12g, sinh khương 12g. Tất cả tán bột làm hoàn hoặc sắc uống. Tác dụng: sơ can thanh nhiệt kiện tỳ, dưỡng huyết... Phòng trị hỏa vượng máu dồn lên đầu hay đau đầu chóng mặt, mặt đỏ, vã mồ hôi, tức ngực sườn đầy tức, mệt mỏi rã rời, khó ngủ, kinh nguyệt không đều, miệng khô, đại tiện bón, có khi nóng hâm hấp như sốt.

boc hoa

Gia giảm: Nếu người gầy huyết hư kinh không đều gia thục địa 20g hoặc sinh địa 20g; nếu đau tức ngực sườn gia hương phụ 10g; đau mỏi vai gáy gia cát căn 14g.

Kiêng kỵ: Người da xanh mét, tay chân lạnh, tỳ yếu hay tiêu chảy, bụng đầy chậm tiêu, ho đàm nhiều. Với người tỳ thận hư hàn, chân lạnh, đi cầu lỏng, nếu dùng bỏ vị đơn bì, chi tử.

Nếu người nóng hay đau đầu chóng mặt do huyết hư hỏa vượng: Dùng bài Tứ vật thang gia giảm: thục địa 30g, đương quy 16g, xuyên khung 14g, bạch thược 20g, cẩu kỷ 14g, cúc hoa 14g, mạch môn 12g, ngũ vị tử 14g, ngưu tất 12g, cam thảo 6g, đại táo 12g, sinh khương 12g. Sắc uống ngày một thang.

Tác dụng: Bổ huyết thanh hỏa. Trị đau đầu chóng mặt, ù tai, đầu lúc đau lúc không, do huyết hư hỏa vượng. Gia giảm: Nếu chóng mặt gia thuyền thoái 10g; nếu tăng huyết áp gia hạ khô thảo 14g; miệng khô khát gia thiên hoa phấn 14g; nếu đau hông sườn bỏ cúc hoa gia sài hồ 12g, bạch truật 12g.

Kiêng kỵ: Người đau đầu, nghẹt mũi xổ mũi do cảm lạnh.

Nếu người nóng bứt rứt khó ngủ do thận âm hư hỏa vượng: Dùng bài Lục vị hoàn gia giảm: thục địa 30g, hoài sơn 18g, sơn thù 14g, đơn bì 16g, phục linh 10g, trạch tả 8g, huyền sâm 12g, ngưu tất 12g, cẩu kỷ 14g, cúc hoa 12g.

Tác dụng: Trị đau đầu do can hỏa vượng. Bổ can thận âm thanh hỏa, giáng hỏa. Phòng trị đau đầu chóng mặt, khó ngủ, do can thận âm hư gây như đầu choáng, mắt hoa, tai ù, điếc, ra mồ hôi trộm, mờ mắt, mỏi mắt, khô mắt.

Gia giảm: Nếu tiểu vàng, dắt, gia tri mẫu 12g, hoàng bá 10g; khó ngủ gia lạc tiên 12g.

Kiêng kỵ: Người tỳ yếu hay tiêu chảy, bụng đầy chậm tiêu, ho đàm nhiều đang bị cảm.

Lương y Nguyễn Văn Sáu

Công dụng ít biết của mật ong

Mật ong còn gọi là bách hoa cao hoặc bạch mật, thạch mật, là sản vật quý của tự nhiên, vừa là món ăn, vừa là vị thuốc. Mật ong quen thuộc với con người ở khắp nơi trên thế giới với nhiều ứng dụng trong đời sống và y dược.

Mật ong chứa nhiều protid, Theo Y học cổ truyền, mật ong có vị ngọt, tính bình, không độc; quy vào các kinh phế, tỳ, đại tràng; có công năng giải độc, nhuận phế, thông tiện và điều hòa các dược liệu khác, còn dùng để giải độc thuốc, trong đó có cả vị ô đầu, phụ tử.

Mật ong không chỉ là món ăn mà còn là vị thuốc tăng cường sức đề kháng của cơ thể và phòng chống nhiều bệnh.

Mật ong có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau: ho, nhiều đờm, ho khan, rát họng do viêm họng cấp mạn tính, viêm amidal... Táo bón do tỳ vị hư nhược, ruột bị nê trệ do nhu động ruột giảm, đau thượng vị. Còn dùng mật ong trị tăng huyết áp, mất ngủ, đau dây thần kinh... Ngoài ra, mật ong còn được dùng như một phụ liệu quý để chế biến một số vị dược liệu cũng như có trong thành phần của nhiều chế phẩm Đông dược. Do có hai công năng chính là kiện tỳ và ích khí phế nên mật ong được sử dụng như một phụ liệu quý để chế biến các vị thuốc có tác dụng quy vào hai kinh tỳ và vị.

Để làm tăng tác dụng quy kinh tỳ của các vị thuốc như bạch truật, hoàng kỳ, người ta đem bạch truật hoặc hoàng kỳ thái phiến rồi tẩm mật ong theo tỷ lệ nhất định (thông thường cứ 1kg thuốc phiến khô dùng từ 2 - 2,5kg mật ong đã được pha loãng bằng một lượng nhất định nước sạch). Trộn đều mật ong với các phiến thuốc, ủ khoảng 1 giờ cho ngấm mật đều rồi sao vàng đến khi bên ngoài phiến thuốc có màu vàng đậm, sờ không dính tay, vị ngọt, đắng nhẹ, mùi đặc trưng (bạch truật) hoặc vị ngọt, mùi thơm đặc trưng của mật ong (hoàng kỳ). Như vậy, hoàng kỳ, bạch truật được dùng trong cổ phương Bổ trung ích khí thang: hoàng kỳ (chích mật ong) 200g, cam thảo 100g; đương quy, đảng sâm, bạch truật (chích mật ong), trần bì, thăng ma, sài hồ, mỗi vị 60g cùng với mật ong làm hoàn, mỗi lần uống 15g. Có tác dụng điều bổ tỳ, vị, ích khí thăng dương; dùng trị tỳ vị hư nhược, trung khí hạ hãm, vô lực, kém ăn, phân hay sống, nát; các chứng sa giáng: sa dạ dày, tử cung, trĩ, lòi dom...

Để làm tăng tác dụng quy kinh phế của các vị thuốc như ma hoàng, tang bạch bì, tỳ bà diệp... cũng tiến hành chích mật ong với các vị thuốc này. Ví dụ, ma hoàng là vị thuốc có tác dụng làm ra mồ hôi, hạ sốt, giảm ho, đờm, suyễn tức; dùng trong các chứng cảm mạo phong hàn, sốt cao, mồ hôi không ra được... Song một khi muốn sử dụng tác dụng giảm ho, bình suyễn của ma hoàng trong các trường hợp viêm phế quản mạn tính với các triệu chứng ho nhiều, đờm nhiều, khó thở, ma hoàng sẽ được chích với mật ong (theo cách đã giới thiệu ở trên). Khi chích với mật ong, sức làm ra mồ hôi của ma hoàng sẽ giảm đi và lại tăng tác dụng chỉ ho, bình suyễn

GS.TS. Phạm Xuân Sinh




Ô mai – Vị thuốc dân gian có công dụng trừ ho, dưỡng họng

Món ăn ngon, vị thuốc dưỡng họng, trừ ho quý

Theo đông y, vị thuốc ô mai được chế biến từ quả mơ (ô là màu đen, mai chính là quả mơ. Ô mai nghĩa là vị thuốc có màu đen, được chế biến từ quả mơ). Để làm thuốc, ô mai được chế biến khá cầu kì, theo y học cổ truyền, gọi là phương pháp cửu chưng cửu sái. Cụ thể như sau: Quả mơ chín vàng được thu hái, đem phơi trong mát đến héo. Sau đó, cho vào vại, ngâm với muối, theo tỉ lệ 1 kg mơ: 300 g muối, sau 3 ngày 3 đêm thì vớt ra, tiếp tục đem phơi trong mát đến khi da quả mơ săn lại, rồi tiếp tục đem ngâm với muối theo cách trên. Làm liên tục như vậy 9 lần (9 lần phơi, 9 lần ngâm, tức cửu chưng, cửu sái), tới khi da quả mơ săn chắc, có màu đen và các hạt muối trắng mịn kết tinh trên bề mặt. Khi đó có thể cất ở nơi khô mát, đem dùng dần.

Khi chế biến thành món ăn, ô mai được gia thêm gừng sao khô và bột cam thảo, tạo nên một hương vị đặc trưng, hấp dẫn. Sự hòa quyện giữa vị chua nhẹ của quả mơ, vị mằn mặn của muối, vị cay nhẹ của gừng, và chút ngòn ngọt của cam thảo, khiến bất cứ ai cũng đều cảm thấy thú vị khi nhâm nhi thưởng thức, thậm chí cả khi vừa nghĩ tới.

Dân gian đã khéo léo chế biến món ăn ngon là ô mai để làm hài lòng người thưởng thức. Đồng thời cũng có thể sử dụng chính món ăn này làm vị thuốc dưỡng họng, trừ ho khi cần thiết. Bởi vì ô mai có tính mát, vị chua nhẹ, nhanh chóng làm dịu họng, giảm ngứa rát họng, giảm khản tiếng và giảm ho. Muối lại có tác dụng sát trùng hầu họng, tốt đối với chứng viêm họng. Gừng giữ ấm, giúp đề phòng chứng ho do nhiễm lạnh, cảm lạnh. Còn cam thảo chính là vị thuốc có nhiều công dụng: hóa đờm, giảm ho, và chống viêm (theo y học cổ truyền và các nghiên cứu dược lý cũng đã chứng minh). Thế nên, có 1 gói nhỏ ô mai mang theo người trong những ngày gió lạnh, không chỉ có thêm món ăn ngon, có thể mời bạn bè cùng thưởng thức, vui thêm cuộc chuyện trò, mà còn là vị thuốc dưỡng họng, phòng ngừa ho hiệu quả.

Sách Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam của GS. Đỗ Tất Lợi có viết: Ô mai, vị chua, tính mát, có tác dụng sinh tân, dưỡng hầu họng, chỉ khái (giảm ho), được dùng chữa trị nhiều chứng ho khác nhau, trong đó có ho lâu ngày, ho do viêm họng, viêm amidan, cổ họng sưng đau…Với tác dụng sinh tân dịch, ô mai là vị thuốc dùng rất tốt khi cơ thể mắc bệnh lâu ngày, bệnh mạn tính khiến hao tổn tân dịch, người khô háo, mệt mỏi, trong đó, có các chứng ho lâu ngày, ho tái đi tái lại do phế âm hư, miệng họng khô, cổ họng ngứa rát, khản tiếng.

Hải Thượng Lãn Ông quy ô mai vào bổ kim. Mà phế thuộc kim theo ngũ hành nên sử dụng ô mai trong chữa trị các chứng bệnh ở phế là phù hợp với quan điểm biện chứng luận trị của đông y. Hải Thượng Lãn Ông cũng phân tích “Tạng phế sắc trắng, là bẩm thụ khí của hành Kim, nó như cái tán, cái lọng che chở cho các tạng khác, không thể chịu được bất kì một vật gì làm chướng ngại. Tỳ là gốc sinh đờm, Phế là đồ chứa đờm. Nếu đờm ở Phế nhiều thì khí nghịch lên mà gây thành ho. Phế là chỗ then chốt, cửa ngõ của toàn thân, không chỗ nào quan trọng hơn chỗ đó. Do vậy, bệnh phế khí nghịch, nhiều đờm không thể không tìm cách trị gấp. Ô mai có vị chua tính liễm, có thể thăng, có thể giáng, giúp thuận khí chỉ khái, hóa đờm”. Điều đó khẳng định vai trò cốt yếu của Ô mai trong các bài thuốc trị ho, đặc biệt các chứng ho dai dẳng lâu ngày không khỏi.

Bảo Thanh, Thuốc ho bổ phế – Với ô mai, vỏ quýt, mật ong và các thảo dược

Vận dụng và phát huy công dụng của ô mai trong trị ho, nhất là các chứng ho dai dẳng lâu ngày, ô mai, cùng với các vị thuốc quen thuộc khác như vỏ quýt, mật ong đã được gia thêm vào bài thuốc có lịch sử 300 năm Xuyên bối tỳ bà cao, tạo nên thuốc ho bổ phế Bảo Thanh. Công thức thuốc gồm nhiều vị thuốc, được kết hợp với nhau thành một phương thuốc hoàn chỉnh, theo nguyên lý của y học cổ truyền. Thuốc phát huy tác dụng hiệp đồng tăng cường: vừa chữa trị triệu chứng (trị ho, hóa đờm), vừa coi trọng bổ dưỡng (bổ phế), nên cải thiện bệnh từ gốc.

Bảo Thanh là thuốc ho bổ phế cao cấp, sản phẩm tâm huyết của tập thể các dược sĩ, bác sĩ, lương y, thầy thuốc của công ty Dược phẩm Hoa Linh. Thuốc được nghiên cứu cẩn trọng từ công thức, tới kỹ thuật bào chế, phối thuốc, và được sản xuất trong nhà máy đạt các tiêu chuẩn thực hành tốt của tổ chức y tế thế giới (GMP, GLP, GSP – WHO), nhằm tạo ra thuốc có hiệu quả tốt nhất tới tay người sử dụng.

Thuốc ho bổ phế Bảo Thanh điều trị hiệu quả các chứng ho do cảm cúm, ho do cảm lạnh, nhiễm lạnh, ho gió, ho khan, ho có đờm, ho do viêm họng, viêm phế quản. Nhất là các chứng ho dai dẳng lâu ngày do phế âm hư, ho tái đi tái lại do dị ứng thời tiết, sử dụng thuốc ho Bảo Thanh cho hiệu quả rất tốt.

Với uy tín chất lượng, thuốc ho bổ phế Bảo Thanh được nhân dân cả nước tin dùng trong nhiều năm qua. Sản phẩm đã nhận được các giải thưởng cao quý như: Nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam, Top 20 nhãn hiệu hàng đầu Việt Nam, Sản phẩm thuốc ho bổ phế được tin dùng số 1 do người tiêu dùng bình chọn.

Bên cạnh sự tín nhiệm của người tiêu dùng, năm 2014, thuốc ho bổ phế Bảo Thanh được Bộ y tế trao tặng giải thưởng Ngôi sao thuốc Việt, nhằm tôn vinh thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

Tắm thuốc ngừa bệnh tật

Trong y học cổ truyền phương Đông, tắm thuốc còn là dược dục liệu pháp, là phương sử dụng thuốc y học cổ truyền và nước để tắm rửa toàn thân hay cục bộ nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ.

Từ đời Chu (Trung Quốc) đã sử dụng Hương thang dục là một phương thức ngâm tắm cơ thể bằng nước sắc của các vị thuốc có mùi thơm. Đến sau đời Tống, trong dân gian bắt đầu xuất hiện những cơ sở chuyên phục vụ khách hàng bằng cách thức “tắm nước thơm”, từ đó dần dần hình thành một thói quen trong thiên hạ. Chẳng hạn ngày Tết thì tắm bằng nước sắc của 5 dược liệu có hương thơm là lan hương, kinh giới, linh lăng hương, bạch đàn hương và mộc hương. Sau khi tắm bằng loại nước này, toàn thân tỏa mùi thơm phức, tinh thần trở nên phấn chấn, cơ thể có khả năng phòng ngừa tích cực các bệnh lý ngoại cảm trong mùa xuân. Sang tháng hai, cổ nhân khuyên nên lấy cây câu kỷ nấu lấy nước tắm ngâm có công dụng làm cho da dẻ sáng bóng, sắc mặt sáng tươi mà trẻ mãi. Sách Vân cập thất tiên (đời Tống) có viết: “Buổi sớm ngày Lập Xuân sắc ba vị là bạch chỉ, đào bì và thanh mộc hương lấy nước mà tắm thì cơ thể hết sức khỏe mạnh”. Bạch chỉ và thanh mộc hương đều là những thứ thuốc có công dụng phương hương hóa trọc, khu phong trừ thấp rất có lợi cho sức khỏe. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, cả ba vị thuốc đều có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, làm thông thoáng đường hô hấp và dự phòng cảm cúm rất tốt. Đào bì là vỏ của cành và thân đào. Sách Bản thảo cương mục có ghi chép về công dụng “tránh ôn dịch” của đào bì. Y thư Tập toa thuốc dân gian Qúi Châu cũng có ghi về việc lấy cành đào đun nước tắm ngâm có thể trị chứng phong thấp, bôi ngoài da có thể chữa được mụn nhọt.

Dưới đây, xin giới thiệu một số công thức dược dục toàn thân có công dụng bảo kiện, cường thân và dưỡng da để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng trong những ngày xuân:

Bài 1. Đậu xanh 20g, bách hợp 20g, băng phiến 10g, hoạt thạch 30g, bạch phụ tử 30g, bạch chỉ 30g, bạch đàn hương 30g, tùng hương 30g, sắc kỹ lấy dịch chiết pha chế thành nước để tắm ngâm toàn thân, mỗi ngày 1 lần. Công dụng: cải thiện sức khỏe và dưỡng da.

Bài 2. Xương bồ 30g, đậu tương 30g, đậu đỏ 20g, tiểu hồi hương 10g, quán chúng 30g, phòng phong 20g, cúc hoa 30g, hồng hoa 20g, lá sen 30g, kinh giới tươi 30g, gừng tươi 10g, sắc kỹ lấy dịch chiết pha chế thành nước để tắm ngâm toàn thân, mỗi ngày 1 lần. Công dụng: dưỡng da, nâng cao sức khỏe, dự phòng tích cực cảm mạo và các bệnh lý ngoài da.

Bài 3. Rượu gạo 750ml hòa với nước ấm trong bồn rồi tắm ngâm toàn thân trong 20 phút. Công dụng: làm da khỏe và đẹp. Cũng có thể thay rượu gạo bằng bia hoặc rượu vàng với liều lượng gấp ba.

Bài 4. Hoa đào 50g, hoa phù dung 30g, kim ngân hoa 30g, hoa sen 30g, bạch chỉ 30g, xuyên khung 20g, sắc kỹ lấy dịch chiết pha chế thành nước để tắm ngâm toàn thân, mỗi ngày 1 lần. Công dụng: làm khỏe và đẹp da, dự phòng cảm mạo ngày xuân.

Bài 5. Tỳ bà diệp 50g, cám gạo 50g, vỏ quýt 30g, địa phu tử 30g, tất cả tán vụ, cho vào túi vải rồi ngâm vào bồn chứa nước nóng, sau đó tắm ngâm toàn thân, mỗi ngày 1 lần. Công dụng: làm da khỏe và đẹp, dự phòng các bệnh lý về da.

Ngoài ra, kinh nghiệm dân gian còn dùng 1 cốc dấm chua hoặc một thìa canh mật ong hoặc vắt 2 quả chanh vào nước ấm để tắm ngâm toàn thân nhằm mục đích làm cho da khỏe và đẹp.

Các vị thuốc vào nồi cùng với một lượng nước vừa phải, đun to lửa cho sôi rồi sắc nhỏ lửa chừng 30 phút. Khi tắm, pha thêm nước nóng sao cho nhiệt độ đạt khoảng 37 - 390C, ngâm tắm toàn thân chừng 20 - 30 phút, mỗi ngày một lần. Tuy nhiên, khi thực hành dược dục liệu pháp cần chú ý: những người bị tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, suy mạch vành, u mạch máu, suy tim, tiền sử đã bị nhồi máu cơ tim, cơ địa dễ xuất huyết không nên tắm ngâm toàn thân trong dịch thuốc có nhiệt độ trên 39 độ C; phụ nữ trong kỳ kinh và người bị dị ứng với dịch thuốc không nên sử dụng; trước và sau bữa ăn ít nhất 30 phút không nên tắm ngâm toàn thân; trước khi ngủ không nên dược dục toàn thân; chú ý tránh tắm ngâm quá lâu để đề phòng cảm lạnh.

ThS. Khánh Mai

Những bài thuốc chữa chứng đau nửa đầu

Chứng đau nửa đầu còn gọi là nhức đầu kiểu migraine, thiên đầu thống, là một loại đau đầu có chu kỳ xuất hiện từng cơn do sự rối loạn chức năng của tế bào thần kinh đặc biệt là tế bào thần kinh vùng hạ đồi (hypothalamus) dẫn đến sự rối loạn co thắt mạch máu sinh đau đầu.

Huyết phủ trục ứ thang

Thành phần: đương quy, sinh địa, hồng hoa đều 9g, đào nhân 12g, chỉ xác, xích thược đều 6g, sài hồ, cam thảo đều 3g, cát cánh, xuyên khung đều 4,5g, ngưu tất 10g.

Chỉ định: chứng đau nửa đầu và các loại bệnh khác do ứ huyết gây nên.

Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần. Thận trọng dùng đối với phụ nữ lượng kinh nhiều.

Đàm đã ông phương

Thành phần: bạch chỉ 30g, xuyên khung, xuyên ô, cam thảo đều 15g.

Chỉ định: trị cơn đau nửa đầu.

Cách dùng: thang thuốc trộn đều, 1/2 để sống, 1/2 sao vàng tán bột mịn trộn đều chia thành 10 bao, ngày uống 2 lần mỗi lần 1 bao, trong 24 giờ không uống quá 4 bao, uống với nước sắc lá trà và lá bạc hà. Trường hợp cơn kéo dài, cơn hết vẫn tiếp tục uống trong 1 tuần.

đau nửa đầu

Xuyên khung trà điều tán

Thành phần: lá bạc hà 240g, xuyên khung, kinh giới (bỏ cọng) đều 120g, hương phụ (sao) 250g (hoặc tế tân bỏ cuống 30g), phòng phong (bỏ cuống) 45g, bạch chỉ, khương hoạt, cam thảo chích đều 60g.

Chỉ định: chứng đau nửa đầu, đau không chừng, một bên hoặc giữa, có triệu chứng sợ lạnh, hoa mắt mũi tắt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Bài này chủ yếu dùng cho chứng đau đầu do phong hàn, trường hợp phong nhiệt thêm bạc hà, liên kiều.

Cách dùng: tất cả tán bột mịn, trộn đều, đóng gói; mỗi lần uống 6g, uống với nước trà sau bữa ăn.

Xuyên khung tán

Thành phần: xuyên khung, tế tân, khương hoạt, hòe hoa, thạch cao, hương phụ, chích cam thảo đều 15g, kinh giới, bạc hà, nhân trần, phòng phong, cúc hoa đều 30g.

Chỉ định: trị thiên đầu thống.

Cách dùng: tất cả thuốc tán bột mịn trộn đều; mỗi lần uống 6g với nước trà, ngày uống 3 lần.

Thuốc có tác dụng sơ phong, thanh nhiệt, chỉ thống, dùng trị chứng thiên đầu thống thể phong nhiệt. Tùy theo vị trí đau đầu mà gia thuốc như: đau nhiều trước trán thêm bạch chỉ, đau ở đỉnh đầu thêm ngô thù, đau vùng chẩm và gáy thêm cát căn, đau 2 vùng thái dương thêm sài hồ.

Khương hoạt thắng thấp thang

Thành phần: khương hoạt, độc hoạt đều 3g, cam thảo chích, phòng phong, xuyên khung đều 1,5g, mạn kinh tử 0,9g.

Chỉ định: chứng phong thấp cứng gáy đau đầu ở biểu, đau toàn thân, phát sốt sợ lạnh, mạch phù.

Cách dùng: liều trên làm thuốc thô cho 300ml nước sắc còn 150ml uống nóng sau khi ăn. Đau đầu nhiều xuyên khung tăng đến 15 - 30g, thấp nặng thêm bạch truật 10g, phong nặng thêm bạch chỉ 10g, khương hoạt 6 - 10g. Cơ thể hư nhiều mồ hôi thêm hoàng kỳ sống cố biểu.

Thiên ma câu đằng ẩm

Thành phần: thiên ma, sơn chi, hoàng cầm, đỗ trọng, ích mẫu thảo, tang ký sinh, dạ giao đằng, chu phục linh đều 9g, câu đằng (cho sau) 12g, thạch quyết minh sống (sắc trước) 18g, xuyên ngưu tất 12g.

Chỉ định: trị đau nửa đầu thể can dương kháng, đau nửa đầu do cao huyết áp.

Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang. Là một bài thuốc dùng nhiều trên lâm sàng; tùy theo vị trí đau đầu có thể dùng thêm các thuốc dẫn kinh như: kinh thiếu dương dùng sài hồ, xuyên khung, kinh thái dương dùng khương hoạt, cát căn, kinh dương minh dùng bạch chỉ, kinh quyết âm dùng ngô thù dù; đau đầu nặng thêm huyền hồ sách để hoạt huyết định thống. Chú ý trường hợp can dương không vượng thì không dùng.

Trấn can tức phong thang

Thành phần: hoài ngưu tất, giá thạch sống (tán nhỏ) đều 30g, long cốt sống (đập vụn), mẫu lệ sống (đập vụn), quy bản sống (đập vụn), bạch thược sống (đập vụn), huyền sâm, thiên đông đều 15g, xuyên luyện tử (đập vụn), mạch nha sống, liên trần đều 6g, cam thảo 4,5g.

Chỉ định: thiên đầu thống thể can dương thịnh, can phong nội động.

Cách dùng: sắc uống mỗi ngày 1 thang chia 2 lần.

Ma hoàng phụ tử tế tân thang

Thành phần: ma hoàng 6g, tế tân 3g, phụ tử 3g.

Chỉ định: đau đầu do ngoại cảm phong hàn, cơ thể dương hư, cho vào 600ml nước; ma hoàng sắc trước (bỏ bọt) cho các vị khác vào sắc còn 300ml bỏ bã uống.

Cách dùng: trị chứng đau nửa đầu do dương hư ngoại cảm. Chú ý không dùng đối với bệnh nhân âm hư hỏa vượng hoặc cao huyết áp. Kiêng ăn chất sống lạnh và béo mỡ.

Xuyên khung định thống ẩm

Thành phần: xuyên khung 6g, câu đằng 12g, cúc hoa 12g, bạch tật lê 10g, ích trí nhân 10g, bạch khấu 6g, bán hạ 6g, xích thược 10g, xuyên ngưu tất 10g.

Chỉ định: đau nửa đầu.

Cách dùng: sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần. Đối với người hư yếu xuyên khung không nên dùng liều cao.

Bình can giải kinh thang

Thành phần: xuyên khung 6g, tang diệp 10g, cúc hoa 12g, từ thạch 6g, đại giá thạch 6g, bạch thược 12g, bạch chỉ 10g, ngưu tất 10g, sài hồ 10g, thần khúc 6g.

Chỉ định: thiên đầu thống.

Cách dùng: sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần.

LY.DS. BÀNG CẨM

Bài thuốc chữa ho do táo nhiệt

Ho do táo nhiệt y học cổ truyền gọi đàm nhiệt khái thấu. Nguyên nhân do khí trời táo nhiệt, lại gặp phải người vốn nhiệt tạng, đờm với nhiệt quấn quýt lấy nhau phát sinh bệnh. Bệnh nhân phát sốt rồi sinh ho, đờm nhiều và dính đặc, sắc vàng như mủ, hơi thở gấp; trong người bức bách khó chịu, mạch phù, hoạt, rêu lưỡi vàng và nhờn bẩn...

Ho do nhiệt hay gặp trong bệnh ho gà, viêm phổi, viêm khí quản, áp-xe phổi mủ, tâm phế mạn, hen suyễn...

Dùng bài Tả bạch tán gồm: tang bạch bì 40g, địa cốt bì 40g, sinh cam thảo 20g. Ba vị sấy khô tán bột mịn. Mỗi lần dùng 20g bột cùng với 20g gạo tẻ, 30 lá trúc diệp, đun với 2 bát nước, cạn còn 1 bát, bỏ bã, uống nóng 1 lần. Gia giảm: nếu có sốt gia tri mẫu 12g, hoàng cầm 12g.

Nếu sốt đã giảm, đờm loãng dễ ra; trong người bớt bức bách khó chịu, khát nước, rêu lưỡi vàng nhờn nên dùng bài Thanh phế thang gồm: mạch môn đông 12g, tri mẫu 12g, cam thảo 4g, hoàng cầm 8g, thiên môn đông 12g, bối mẫu 12g, quất hồng 4g, tang bạch bì 12g. Các vị cho vào nồi, đổ 3 bát nước, đun cạn còn 1 bát, bỏ bã, uống 1 lần.

chua hoHo do táo nhiệt (đàm nhiệt khái thấu) hay gặp trong viêm khí quản, viêm phổi, tâm phế mạn, áp-xe phổi.

Nếu người vẫn sốt, đau đầu, ho khan, khí nghịch mà suyễn, ngực đầy tâm phiền, họng khô mũi ráo, lưỡi khô không rêu, mạch hư đại mà sác; hay gặp ở viêm phế quản, giai đoạn phục hồi sau viêm phổi, họng tê mất tiếng;

Dùng bài Thanh táo cứu phế thang: thạch cao 20g, tang diệp 12g, hạnh nhân 12g, a giao 12g, tỳ bà diệp 12g, cam thảo 4g, nhân sâm 12g, hồ ma 12g, mạch môn đông 20g. Đun với 5 bát nước, cạn còn 2 bát, bỏ bã, chia uống 2 lần. Gia giảm: đờm nhiều, thêm bối mẫu 12g, qua lâu 12g; huyết khô gia sinh địa 24g; nhiệt nhiều, thêm thủy ngưu giác 12g, linh dương giác 4g hoặc thêm ngưu hoàng 4g.

Nếu đại tiểu tiện bí và sáp, suyễn thấu mãi không dứt, đờm đặc dính, sắc vàng, đó là nhiệt nhiều.

Dùng bài Nhân sâm tả phế thang: sơn chi 12g, liên kiều 12g, đại hoàng 12g, chỉ xác 4g, nhân sâm 8g, cát cánh 3g, bạc hà (để riêng) 4g, hoàng cầm 12g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, tang bì 12g. Đun với 3 bát nước, cạn bớt 1 bát, bỏ bạc hà vào, đun cạn 1 bát, bỏ bã, uống làm 1 lần.

Nếu tới thời kỳ nhiệt thịnh làm hại tới phế lạc, mỗi khi ho bật ra máu tươi... Dùng bài Ngọc nữ tiễn hoặc Thái bình thang:

Thái bình thang: thạch cao sống 40g, bạch mao căn 40g, sinh địa 40g, ngẫu tiết thán 40g, đại hoàng thán 12g. Đun với 1 bát đồng tiện và 3 bát nước, cạn còn 2 bát, bỏ bã. Chia uống 2 lần.

Ngọc nữ tiễn: sinh thạch cao 24g, tri mẫu 12g, mạch đông 16g, sinh địa 32g, ngưu tất 12g. Đun với 5 bát nước còn 2 bát, bỏ bã, chia uống 2 lần.

Bài Ngọc nữ tiễn vừa chỉ huyết lại kiêm cả bổ; bài Thái bình thang chuyên chỉ huyết mà không bổ. Nếu trong đờm có huyết hình thể hư thì uống bài Ngọc nữ tiễn, hình thể thực thì uống Thái bình thang.

Lương y Thảo Nguyên

Chữa bệnh bằng mực tàu

Mực tàu là một loại mực màu đen được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước phương Đông và một vài nước khác như Ai Cập, Anh... trong quá khứ để viết, in và vẽ. Trong ngôn ngữ như tiếng Anh, mực tàu được gọi là Indian ink hay India ink (tức là mực Ấn Độ), tuy nhiên, nguồn gốc chính xác của nó thì cho đến nay vẫn chưa rõ ràng, chỉ biết rằng, các chuyên luận sớm nhất về nghệ thuật có nói đến mực tàu do người Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại sản xuất ra. Nền tảng của mực này là chất màu cacbon đen pha trong chất keo lỏng hay các môi trường gắn kết khác. Theo cổ thư Trung Quốc, mực tàu được làm từ muội than của nhựa hoặc gỗ cây thông bị đốt cháy rồi hoà với chất keo và hương liệu. Tuy nhiên, muội than của các dạng gỗ khác nhau cũng được sử dụng và sẽ tạo ra các loại mực có tông màu khác nhau.

Trong các dược thư cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo thập di, mực tàu được gọi bằng nhiều tên khác nhau như ô kim, trần hương, huyền hương... và được dùng làm thuốc với vị cay, tính bình, không độc, vào được các đường kinh tâm, can và thận, có công dụng chỉ huyết (cầm máu) và tiêu thũng (làm hết phù nề), được dùng để chữa các chứng bệnh như thổ huyết (nôn ra máu), nục huyết (chảy máu cam), băng huyết, huyết lỵ (kiết lỵ phân có lẫn máu), ung thũng phát bối (nhọt độc ở vùng gáy, lưng)... Theo sách Cương mục, mực tàu có tác dụng lợi tiểu tiện, điều hoà kinh nguyệt; sách Khai ngọc bản thảo cho rằng mực tàu có khả năng chỉ huyết, sinh cơ phu; theo sách Bản thảo tái tân, loại mực này có công năng bình can thanh phế, trừ phong nhiệt, chỉ khái thấu, sinh tân giải khát. Trong y dược học cổ truyền, mực tàu được dùng để chữa khá nhiều bệnh khác nhau. Nên chọn loại mực để càng lâu thì càng tốt, nếu uống trong thì lấy 1 - 3 tiền mài uống hoặc tán bột trộn với các vị thuốc khác để làm thuốc hoàn tán, nếu dùng ngoài thì mài với nước để bôi xoa.

Chữa nôn ra máu: bột mực tàu 2 tiền hoà với nước a giao uống.

Chữa chứng chảy máu cam: nước mực tàu đặc nhỏ vào lỗ mũi.

Trị băng huyết: bột mực tàu 1 thìa uống.

Chữa chứng xích bạch lỵ (kiết lỵ đi ngoài phân có máu hoặc nhầy mũi): can khương và mực tàu mỗi thứ 2 lạng hoà với dấm làm thành viên hoàn to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống vài lần, mỗi lần 30 viên với nước cơm.

Trị nhọt độc ở lưng: dùng mực tàu mài với dấm xoa xung quanh tổn thương, ở giữa lấy mật lợn bôi...

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Thuốc Đông y điều trị viêm phế quản

Trong thời tiết mùa đông, nhiệt độ trong ngày chênh lệch lớn, nóng lạnh thay đổi đột ngột khiến mọi người, đặc biệt là trẻ em và người già y...